Giáo dục kỹ năng sống: Lộ trình xóa tật cận thị của trẻ ở lứa tuổi học đường - Make Your Eyes Shine

G Giáo dục kỹ năng sống: Lộ trình xóa tật cận thị của trẻ ở lứa tuổi học đường

Giáo dục kỹ năng sống: Lộ trình xóa tật cận thị của trẻ ở lứa tuổi học đường

Trong thực tế hiện nay, tật cận thị ngày một gia tăng ở học sinh tiểu học, trung học cơ sở, đặc biệt đối với trẻ sinh sống ở khu vực đô thị. Tật cận thị có thể do di truyền nhưng chủ yếu nhất là người lớn còn chưa chú ý hoặc còn thiếu hiểu biết về tật cận thị và việc bảo vệ đôi mắt trẻ em. Ngoài ra, cũng có một tỷ lệ nhỏ học sinh vì thấy bạn bè bị cận thị đeo kính, muốn bắt chước cho có vẻ thông minh, “người lớn” hơn. Nghĩa là các em chưa ý thức được rằng, đã là “tật” thì “tật” nào cũng bất bình thường.

Ánh sáng là vật chất gần gũi nhất, tác động nhiều nhất tới con người từ khi sinh ra (nhìn thấy mặt trời). Nhưng trong chương trình giáo dục của chúng ta, học sinh lớp 8 (lứa tuổi 14 – 15) mới được học khái niệm về ánh sáng, học sinh lớp 11 (chương trình cũ là lớp 12) mới được học về mắt và các tật của mắt. Có điều, chương trình mới chỉ chú ý hình thành cho học sinh khái niệm thế nào là cận thị và đeo kính loại gì để khắc phục cận thị chứ chưa đề cập đến nguyên nhân và cách phòng tránh cận thị. Điều này đã tạo nên lỗ hổng về nhận thức của người học. Nếu học sinh được khắc sâu, ghi nhớ về nguyên nhân dẫn đến cận thị và cấu tạo của mắt thì đương nhiên các em sẽ biết cách phòng tránh cận thị. Thậm chí dù đã bị cận thị, các em vẫn biết cách không để mức độ cận thị nặng thêm và có ý thức cao hơn trong việc cảnh báo để các thế hệ sau mình không mắc phải.

 

 

Các khái niệm ánh sáng, cấu tạo của mắt, sự điều tiết của mắt, các tật của mắt không khó dạy, không khó tiếp thu vì đó đều là những vấn đề liên quan trực tiếp đến con người trong cuộc sống hàng ngày. Mọi người lớn có kiến thức về vấn đề này đều có thể truyền đạt và hướng dẫn. Mọi trẻ em từ lớp 1 (khoảng 5 – 6 tuổi) trở lên đều có thể tiếp thu và thực hiện hướng dẫn. Tất nhiên theo đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức lứa tuổi, học sinh tiểu học chỉ cần biết những khái niệm cơ bản nhất còn học sinh trung học cần nắm kiến thức về ánh sáng và mắt một cách hệ thống hơn.

Trước thực tế đó, chúng ta cần phải có lộ trình xóa cận thị. Gọi là “lộ trình” vì đối với học sinh đã mắc cận thị, chúng ta chỉ có thể giúp học sinh biết cách để mức độ cận thị không nặng thêm. Chỉ cần có thời lượng từ 2 đến 3 tiết, giáo viên có thể giúp học sinh nắm được các khái niệm cơ bản về ánh sáng, cấu tạo của mắt, sự điều tiết của mắt, các hướng dẫn cụ thể về cách phòng tránh cận thị nhưng nếu học sinh được khắc sâu và luôn có ý thức thường trực thì chắc chắn số lượng học sinh mắc cận thị sẽ giảm thiểu. Cũng cần lưu ý rằng, ở đây chúng ta chỉ đề cập việc tự xóa tật cận thị về mặt cơ sinh học, tuyệt đối không dùng “thuốc bổ mắt”; Không dùng đến các dụng cụ như áo chống cận, giá chống cận gây tốn kém và làm các em bị gò bó (khác gì bó bột), làm mất đi tính linh hoạt, hồn nhiên của trẻ. Hiện nay, khoa học phát triển, đeo kính áp tròng, thay thủy tinh thể… cũng xóa được tật cận thị song rất tốn kém và hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe.

Tóm lại, nếu trang bị cho trẻ kiến thức, kỹ năng cần thiết để trẻ biết tự bảo vệ đôi mắt của chính mình sẽ là cách có lợi nhất cho trẻ, gia đình và xã hội. Với mục đích ấy, chuyên đề này cố gắng góp bàn một số kỹ năng cần thiết về nguyên nhân và cách phòng chống tật cận thị.

Khái niệm cơ bản về ánh sáng

– Ánh sáng: là vật chất, vừa có tính sóng vừa có tính hạt (còn gọi là những xung năng lượng, photon, được lan truyền với vận tốc 300.000km/s).

– Nguồn sáng: là các vật phát ra ánh sáng. Ví dụ: Mặt trời, bóng đèn điện khi bật, ngọn nến đang cháy… (vật tự phát sáng); ánh sáng phản xạ từ gương và các đồ vật bất kỳ (nguồn sáng thứ cấp).

 Vật sáng: tất cả các vật tự phát sáng hay vật được chiếu sáng đều được gọi là vật sáng; hoặc tất cả những vật mà mắt nhìn thấy được gọi là vật sáng.

– Thấu kính: là một môi trường trong suốt, được giới hạn bởi hai mặt cong hoặc một mặt phẳng và một mặt cong. Kính lão (mắt kính) của người có tuổi gọi là thấu kính hội tụ, kính đeo (mắt kính) của những người bị tật cận thị gọi là thấu kính phân kỳ.

Cấu tạo chính của mắt

 

 

 Giác mạc (Comea): là một bản mỏng trong suốt giống như sừng, có tác dụng bảo vệ các cấu tạo phía trong của mắt (có thể hướng dẫn học sinh thêm khi đi đường bụi cần đeo kính bảo hộ; có côn trùng bay vào mắt, cần dùng nước sạch để rửa sạch giác mạc, chớp mắt vào cốc nước đổ đầy).

– Màng mống mắt (Muscle): là lớp màng mỏng có màu đen (hoặc màu xanh, màu nâu), chính giữa có một lỗ tròn nhỏ gọi là lỗ con ngươi. Màng mống có tác dụng chắn sáng.

 Lỗ con ngươi (Iris): là một lỗ tròn nhỏ cho ánh sáng truyền qua, kích thước của lỗ tự điều tiết thay đổi được, có tác dụng điều tiết cường độ ánh sáng lên võng mạc (hướng dẫn thêm nếu thường xuyên nhìn tối quá, lỗ con ngươi mắc tật to con ngươi “mắt trắng dã”; nhìn thẳng quá 1 tích tắc vào mặt trời đang chói chang sẽ bị cháy võng mạc, tức là bị mù; khi xem hàn điện, quan sát nhật thực phải có kính hàn hoặc xem ảnh qua chậu nước).

– Thủy tinh thể (Lens): là chất trong suốt, đàn hồi, giống như một thấu kính hội tụ, nhưng tự điều tiết, phồng lên(cơ đỡ thủy tinh thể ép) hoặc tự dẹt lại do tính đàn hồi và khi đó cơ đỡ thủy tinh thể nhả ra; có tác dụng tạo ảnh thật của vật lên võng mạc (đây là nội dung chính của chuyên đề).

– Thủy tinh dịch; Dịch thủy tinh: là chất lỏng trong suốt choán đầy không gian trước và sau thủy tinh thể; có tác dụng tự cân bằng áp suất, bảo vệ mắt (Hướng dẫn học sinh và người lớn, khi thấy mắt bị mờ, tức là thủy tinh dịch bị đục, lập tức phải đi khám chữa ngay, đây là bệnh viêm đầu thống, nếu không kịp thời chữa trị sẽ dẫn đến nổ mắt).

 Cơ đỡ thủy tinh thể (Fibers): chỉ thuần túy là cơ bắp, có tác dụng đỡ thủy tinh thể và bóp cho thủy tinh thể phồng lên, nhả ra cho thủy tinh thể dẹt lại.

– Võng mạc (Centralis): nằm ở đáy mắt, nơi tập trung các đầu dây thần kinh thị giác, giống như phim ảnh (của máy ảnh); có tác dụng nhận và xử lý hình ảnh (hiện tượng mù màu, mù hoàn toàn, một trong các nguyên nhân cũng là ở đây; hướng dẫn thêm nên dùng nhiều chiếu sáng bằng ánh sáng tự nhiên hoặc đèn điện dây tóc, hạn chế dùng đèn Nê-ông, ánh sáng đơn sắc khi học và làm việc vì mắt khi đó sẽ kém nhạy màu sắc, kém phân biệt màu sắc).

Sự điều tiết của mắt – Tật cận thị của mắt

– Điểm cực cận, điểm cực viễn: khi ảnh của vật qua thủy tinh thể được hiện rõ nét trên võng mạc gọi là nhìn rõ nét vật. Khi vật tiến lại gần mắt, cơ đỡ thủy tinh thể sẽ ép cho thủy tinh thể phồng lên, càng gần càng phồng nhiều, điểm gần nhất mà mắt còn nhìn rõ, gọi là điểm cực cận (cách mắt khoảng 20 cm đến 25 cm với mắt không có tật). Khi vật càng ở xa, cơ đỡ thủy tinh thể nhả ra để thủy tinh thể dẹt lại, điểm xa nhất mà mà mắt còn nhìn rõ vật được gọi là điểm cực viễn (mắt không có tật điểm cực viễn ở vô cùng). Quan sát ở xa hoặc ngắm cảnh, cơ đỡ thủy tinh thể được thả lỏng, mắt cảm thấy thoải mái.

– Khoảng nhìn rõ: khoảng cách từ điểm cực cận đến đến điểm cực viễn gọi là khoảng nhìn rõ của mắt.

– Tật cận thị: mắt có điểm cực cận và điểm cực viễn ở gần mắt hơn người bình thường, gọi là mắt bị “cận thị” (trẻ em điểm cực cận cách mắt nhỏ hơn 20cm, người lớn nhỏ hơn 25cm; điểm cực viễn cách mắt trên 10m gọi là cận nhẹ, cách mắt dưới 6m gọi là cận nặng).

– Nguyên nhân chính dẫn đến tật cận thị: đó là do đọc, viết và nhìn gần liên tục và thường xuyên, dẫn đến thủy tinh thể thường xuyên bị phồng lên, tính đàn hồi sẽ kém dần, nên khi nhìn xa thủy tinh thể không tự dẹt lại được (tức là không nhìn rõ vật ở xa). Đa số khi quan sát gần, cũng tạo cho thần kinh điều tiết có thói quen mới, hoạt động theo cơ sinh học mới, dẫn đến thói quen chỉ nhìn gần, lười quan sát xa, lâu ngày trở thành tật cận thị.

Như vậy, rất cần để thủy tinh thể có hoạt động cơ học thường xuyên và hài hòa (phồng và dẹt). Việc này không có ảnh hưởng bất kỳ đến hoạt động học của học sinh, có thể chỉ cần ngước nhìn ra xa trong tích tắc, thời gian ra chơi, hay nghỉ ngơi nên phóng tầm mắt ra xa, ngắm cảnh hoặc nhìn bâng quơ, khi đó cơ đỡ thủy tinh thể được thả lỏng, nghỉ ngơi. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc, đọc, viết rất nhiều, nhưng 79 tuổi Bác Hồ vẫn không bị cận thị (dù lịch sử không phân tích việc này, nhưng qua thơ của Bác có thể thấy lúc Bác nghỉ ngơi, Bác thường đi ngắm cảnh, tức là “tập thể dục” cho mắt).

Những điều cần thực hiện

– Lớp học cần đủ ánh sáng, cần tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên. Tất cả học sinh được ngồi học cách bảng tối thiểu 1,8 m, định kỳ hàng tháng luân phiên đổi vị trí ngồi học. Khoảng cách đọc sách và viết với học sinh lớn là 30cm đến 35cm, học sinh nhỏ tuổi đọc cách khoảng 25cm.

– Bàn học ở nhà nên kê nhìn ra hướng cửa sổ, nếu nhìn vào tường phải có khoảng cách trên 4m, trên tường nên có tranh, ảnh nhiều màu sắc và được các em thích; nếu bàn cách tường nhỏ hơn 4m thì tường trước mặt treo gương to, tường phía sau treo tranh ảnh. Kê máy tính cũng tương tự, nên để máy tính sao cho các em nhìn chếch xuống khoảng 10độ, cách màn hình tối thiểu 60cm.

– Đọc sách, đọc trên máy tính, viết… tối đa hết 1 trang, phải ngước nhìn về phía trước vài giây; trong lớp học phải có thói quen đọc trên bảng. Không nên chơi điện tử, vì khi đó mắt bị tập trung cao độ, thường trong một thời gian dài, rất có hại cho mắt. Thời gian học tối đa 90 phút, cần được nghỉ 10 phút đến 15 phút. Khi học, đọc có căng thẳng, tập trung, chú ý không được đi ngủ ngay, mà cần “tập thể dục” cho mắt.

***** Đôi mắt là tài sản quý giá của mỗi người, hãy trân trọng và bảo vệ, hãy cố gắng qua tuổi mười tám, khi đó thủy tinh thể cơ bản đã ổn định.

 

 

Đăng Ký Miễn Phí
                                           

Bình Luận